Theo Thông tư số 20/2026/TT-BGDĐT, bảo đảm chất lượng không chỉ là hoạt động đánh giá mức độ đáp ứng yêu cầu, mà hướng đến xây dựng một hệ thống có khả năng đo lường, cung cấp thông tin, phản hồi và liên tục cải tiến chất lượng.
Trong giáo dục đại học, chất lượng không phải là một trạng thái cố định. Chất lượng được hình thành từ mục tiêu, cách thức tổ chức hoạt động, kết quả đạt được và khả năng không ngừng điều chỉnh để đáp ứng tốt hơn nhu cầu của người học, xã hội và các bên liên quan.
Tinh thần này được thể hiện khá rõ trong Thông tư số 20/2026/TT-BGDĐT ngày 31/3/2026 của Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định về kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục đại học. Theo Điều 3 của Thông tư, các cơ sở giáo dục đại học sử dụng Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng và kết quả kiểm định để xây dựng, vận hành, phát triển và hoàn thiện hệ thống bảo đảm chất lượng bên trong; đồng thời tự đánh giá, công khai thông tin, thực hiện trách nhiệm giải trình và bảo đảm nâng cao chất lượng đào tạo.
Điều đó cho thấy kiểm định chất lượng không nên được nhìn nhận đơn thuần là một hoạt động đánh giá theo chu kỳ. Quan trọng hơn, kết quả đánh giá cần trở thành cơ sở để nhà trường nhìn lại chính mình, nhận diện những điểm cần cải tiến và đưa ra những điều chỉnh phù hợp.
Trong Chương II – Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng cơ sở giáo dục đại học của Thông tư 20/2026/TT-BGDĐT, mạch nội dung về bảo đảm chất lượng được thể hiện tập trung ở Tiêu chuẩn 9, Tiêu chuẩn 10 và Tiêu chuẩn 11: Hệ thống bảo đảm chất lượng; Hệ thống thông tin bảo đảm chất lượng bên trong; và Nâng cao chất lượng.

Theo Tiêu chuẩn 9 – Hệ thống bảo đảm chất lượng thuộc Bộ tiêu chuẩn tại Chương II Thông tư 20/2026/TT-BGDĐT, hoạt động BĐCL được đặt trong một hệ thống có tổ chức, kế hoạch và cơ chế triển khai rõ ràng.
Đáng chú ý là Tiêu chí 9.4 yêu cầu cơ sở giáo dục đại học xác lập rõ các chỉ số chính nhằm đánh giá hiệu quả thực hiện và các chỉ tiêu để đo lường hiệu quả hoạt động BĐCL; kết quả đo lường được công bố kịp thời đến các bên liên quan để phục vụ phản hồi và cải tiến.
Điểm đáng suy ngẫm ở đây là đo lường không phải để có thêm số liệu, mà để biết chất lượng đang ở đâu và cần thay đổi điều gì.
Một chỉ số chỉ thực sự có ý nghĩa khi gắn với một mục tiêu cụ thể và có khả năng hỗ trợ quá trình ra quyết định. Kết quả đo lường cần được phân tích, trao đổi và phản hồi; từ đó nhà trường có thể nhận diện những điểm mạnh cần phát huy, những khoảng cách cần thu hẹp và những hoạt động cần điều chỉnh.
Có thể hình dung một chu trình tương đối rõ: xác lập mục tiêu – lựa chọn chỉ số – đo lường – phản hồi – cải tiến. Khi chu trình này được vận hành thường xuyên, BĐCL sẽ dần trở thành một bộ phận tự nhiên của hoạt động quản trị, thay vì chỉ tập trung vào thời điểm chuẩn bị cho một đợt đánh giá.
Để đo lường chất lượng có ý nghĩa, nhà trường cần có hệ thống thông tin đủ tin cậy và hữu ích. Đây chính là nội dung được nhấn mạnh tại Tiêu chuẩn 10 – Hệ thống thông tin bảo đảm chất lượng bên trong thuộc Bộ tiêu chuẩn tại Chương II Thông tư 20/2026/TT-BGDĐT.
Theo Tiêu chí 10.1, cơ sở giáo dục đại học cần có hệ thống quản lý thông tin hiệu quả để thu thập, xử lý và báo cáo các chỉ số chính, các chỉ tiêu về chiến lược và BĐCL. Tiêu chí 10.2 tiếp tục yêu cầu hệ thống thông tin có chức năng phân tích dữ liệu, cho phép các bên liên quan tiếp cận thuận lợi để hỗ trợ ra quyết định, đồng thời bảo đảm tính toàn vẹn và hữu ích của thông tin.
Như vậy, dữ liệu không nên dừng lại ở những bảng thống kê hay báo cáo. Điều quan trọng hơn là dữ liệu phải giúp nhà trường trả lời được những câu hỏi thiết thực: Kết quả đang như thế nào? Nguyên nhân của những hạn chế là gì? Hoạt động nào cần điều chỉnh? Sau khi điều chỉnh, kết quả có thay đổi hay không?
Khi dữ liệu được sử dụng theo cách đó, hệ thống BĐCL không chỉ cung cấp minh chứng cho hoạt động kiểm định mà còn trở thành nguồn thông tin phục vụ quản trị và cải tiến chất lượng.
Nếu Tiêu chuẩn 9 đặt nền tảng cho hệ thống BĐCL và Tiêu chuẩn 10 tạo cơ sở thông tin cho việc đo lường, thì Tiêu chuẩn 11 – Nâng cao chất lượng cho thấy rõ hơn mục tiêu cuối cùng của cả quá trình.
Theo Tiêu chí 11.1, cơ sở giáo dục đại học cần có kế hoạch liên tục tăng cường hệ thống BĐCL, bao gồm các hoạt động đối sánh, nghiên cứu so sánh nhằm xác định các thực hành tốt trong đào tạo, nghiên cứu khoa học, kết nối và phục vụ cộng đồng. Tiêu chí 11.2 yêu cầu thiết lập các chỉ số đối sánh, so sánh từ nhiều nguồn và sử dụng các chỉ số này trong hoạt động tự đánh giá và cải tiến các hoạt động BĐCL.
Ở đây, “cải tiến” không nên được hiểu là một hoạt động chỉ thực hiện khi phát hiện vấn đề. Cải tiến cần trở thành một thói quen quản trị: thường xuyên nhìn lại kết quả, so sánh với mục tiêu và những thực hành phù hợp, lắng nghe phản hồi, nhận diện khoảng cách và chủ động tìm kiếm cách làm tốt hơn.
Điều này cũng làm thay đổi cách nhìn về kiểm định. Một kết quả chưa đạt không chỉ là một hạn chế cần khắc phục; đó còn có thể là thông tin quan trọng giúp nhà trường xác định hướng cải tiến. Ngược lại, một kết quả tốt cũng không đồng nghĩa với việc quá trình cải tiến đã kết thúc, bởi yêu cầu đối với giáo dục đại học luôn vận động cùng sự thay đổi của xã hội.
Nhìn từ ba tiêu chuẩn 9, 10 và 11, có thể thấy một mạch liên kết khá rõ trong cách tiếp cận của Bộ tiêu chuẩn đánh giá chất lượng CSGD đại học: có hệ thống BĐCL → có thông tin và dữ liệu → có đo lường và phân tích → có phản hồi → có cải tiến.
Đây cũng là điểm làm cho BĐCL trở thành một nội dung của quản trị đại học chứ không chỉ là nhiệm vụ của đơn vị chuyên trách. Để hệ thống vận hành thực chất, mỗi đơn vị trong nhà trường cần hiểu mục tiêu của mình, biết sử dụng dữ liệu để nhìn lại hoạt động, sẵn sàng tiếp nhận phản hồi và chủ động thực hiện những điều chỉnh cần thiết.
Theo tinh thần của Điều 3 Thông tư 20/2026/TT-BGDĐT, Bộ tiêu chuẩn không chỉ được sử dụng cho hoạt động đánh giá, mà còn là cơ sở để CSGD đại học xây dựng, vận hành và hoàn thiện hệ thống BĐCL bên trong, thực hiện trách nhiệm giải trình và nâng cao chất lượng đào tạo.
Vì vậy, giá trị của BĐCL không nằm ở việc nhà trường có bao nhiêu báo cáo hay bao nhiêu minh chứng, mà ở khả năng biến thông tin thành hiểu biết, biến phản hồi thành hành động và biến hành động thành những cải tiến có thể nhìn thấy được.
BĐCL, suy cho cùng, không phải là việc chuẩn bị cho một đợt kiểm định. Đó là cách một cơ sở giáo dục thường xuyên nhìn lại mình để làm tốt hơn – hôm nay tốt hơn hôm qua và ngày mai tiếp tục tốt hơn hôm nay./.
Nguồn: Thông tư số 20/2026/TT-BGDĐT
Thực hiện: Phòng BĐCL&KT
Ý kiến bạn đọc
Những tin cũ hơn